Cội nguồn xứ Quảng trong nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng

Ngày đăng: 28/09/2026

(Tiếp cận từ góc độ không gian văn hóa và di sản gia đình – phong thổ)

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc thế kỷ XX, cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) là biểu tượng tiêu biểu cho khí phách kiên trung, đạo đức thanh bạch và tinh thần đại đoàn kết toàn dân. Tiếp cận từ góc độ di sản học, nhân cách một danh nhân không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, biệt lập, mà là sự kết tinh hữu cơ của địa tầng văn hóa, nếp sống gia đình và tinh thần thời đại. Nhìn vào cuộc đời và sự nghiệp của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng, cội nguồn xứ Quảng từ nếp nhà nông nho nơi làng Thạnh Bình đến hào khí quật cường của một vùng đất giàu truyền thống canh tân chính là cái nôi nuôi dưỡng, định hình nên bản lĩnh của một chí sĩ trọn đời vì nước, vì dân.

1. Không gian phong thổ Tiên Phước: Cốt cách tôi luyện từ sỏi đá và rừng quế

Cụ Huỳnh Thúc Kháng, thuở nhỏ tên là Huỳnh Văn Thước, khi đi học đổi tên thành Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Mính Viên, sinh ngày 01/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng).


Một góc làng cổ ở xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng

Địa bàn Tiên Phước thuở trước mang đặc trưng của vùng trung du bán sơn địa, địa hình cách trở với đồi dốc, gò đá bazan xen kẽ thung lũng sâu. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt cùng phương thức mưu sinh dựa vào nương đồi, rừng quế đã sớm rèn đúc cho cư dân nơi đây sức chịu đựng bền bỉ và ý chí tự lực phi thường. Trong thơ văn, cụ Huỳnh từng phác họa lại địa thế quê nhà bằng những nét vẽ cô đọng:

“Thanh sơn tam diện chẩn bình trù,

Nhất đái Lô Hà nhập hải lưu…”

(Dịch nghĩa: Đồng bằng núi dựng ba bề / Sóng Giăng một dải chảy về biển đông).

(Trích Thư gửi anh em chú bác – Huỳnh Thúc Kháng)

Từ quy luật chuyển hóa sinh thái văn hóa, chính môi trường sống gian lao ấy đã hun đúc nên ở Huỳnh Thúc Kháng một bản lĩnh quật cường. Đặc tính dẻo dai của đất đồi, vị cay nồng của cây quế Tiên Phước bám rễ sâu vào lòng đất cằn cỗi đã trở thành hình tượng biểu trưng cho khí tiết kẻ sĩ:

“Khương quế lão du tân

Hoa lưu chí thiên lý

Truyền ngữ tố tâm nhân

Thân tồn tâm bất tử”

(Tánh gừng quế càng già càng mãnh liệt / Trải đường dài mới biết ngựa hay / Thân còn tâm huyết còn đây!).

(Trích bài thơ Mừng thọ ông Trần Trọng Cung – Huỳnh Thúc Kháng)

Cốt cách vững chãi ấy là hành trang tinh thần vô giá khi Cụ bước vào chốn lao tù đế quốc. Mười ba năm đày ải nơi Côn Đảo (1908 – 1921), trải qua khổ sai đập đá, xiềng xích và ngục tối, người tù mang số hiệu 7455 vẫn bền gan, biến nhà tù đế quốc thành “trường học thiên nhiên” để rèn rũa ý chí, tự học tiếng Pháp và sáng tác thơ văn truyền bá ngọn lửa yêu nước.


Nguồn: Bảo tàng Đà Nẵng

2. Nếp nhà nông nho: Mạch nguồn nhân ái và đạo lý thanh bạch

Bên cạnh điều kiện tự nhiên, nhân cách Huỳnh Thúc Kháng được kế thừa trực tiếp từ nền nếp gia phong. Thân phụ Cụ là cụ Huỳnh Văn Phương, một nhà nho từng theo nghiệp đèn sách và thuần thục nghề nông; thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Tình, người phụ nữ mực thước, đảm đang. Sự hòa quyện giữa tinh thần Nho gia trọng đạo nghĩa và bản tính cần lao của người nông dân xứ Quảng đã tạo nên nền tảng đạo đức mẫu mực cho con người Cụ.

Dù nổi tiếng thông minh, sớm đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1900 (từ đây đổi tên là Huỳnh Thúc Kháng) và đỗ Tiến sĩ năm 1904, Cụ dứt khoát không ra làm quan cho triều đình thuộc địa. Khước từ bổng lộc để dấn thân vào con đường cứu nước, hành động ấy bắt nguồn từ sự thấm nhuần đạo lý trung trinh của gia đình và tinh thần tự trọng của kẻ sĩ chân chính.

Gốc rễ nông dân nghèo giúp Cụ luôn gắn bó máu thịt với đời sống lầm than của nhân dân. Từ những vần thơ phản ánh cảnh ngộ quê nhà cho đến các diễn ngôn sắc bén đòi quyền lợi dân sinh, ngòi bút của Cụ luôn hướng về người lao động nghèo.

“Gà gáy đầu,

Chồng vác cày đi mở trâu.

Gà gáy thứ hai,

Vợ dậy nấu nước và đun khoai.

Gà gáy thứ ba,

Mai cuốc giỏ trạc, cả nhà cùng nhau ra;…”

(Trích Bài thơ Nhà nông nghèo ở thôn quê – Huỳnh Thúc Kháng)

Hậu phương gia đình, người vợ tần tảo nơi quê nhà âm thầm cáng đáng cảnh ngộ gian nan để chồng trọn vẹn chí lớn cứu đời cũng là cội nguồn tình cảm sâu nặng, bồi đắp nét bình dị, thủy chung trong nhân cách Mính Viên.

3. Tinh thần Duy tân xứ Quảng: Cương trực phụng sự công lý và tinh thần đại đoàn kết

Quảng Nam đầu thế kỷ XX là cái nôi bùng nổ của phong trào Duy Tân. Cùng với các sĩ phu kiệt xuất như Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng đã khởi xướng cuộc vận động cải cách toàn diện với chủ trương cốt lõi: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Đặc trưng văn hóa “ưa tranh biện, chuộng lẽ phải” của xứ Quảng ở Huỳnh Thúc Kháng đã chuyển hóa thành bản lĩnh phản biện xã hội sắc sảo và kiên quyết. Cụ quyết liệt bài xích lối học khoa cử từ chương sáo rỗng, cổ vũ học chữ Quốc ngữ, đề cao thực học, thực nghiệp và tư tưởng dân quyền. Trở thành Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ năm 1926, Cụ thẳng thắn sử dụng nghị trường để chất vấn chính sách cai trị bất công của chính quyền thực dân; khi nhận rõ bản chất bù nhìn của cơ quan này, Cụ dứt khoát từ chức vào năm 1928.

Sau đó, qua 16 năm liên tục lãnh đạo báo Tiếng Dân (1927 – 1943) với 1.766 số xuất bản, Cụ giữ vững nguyên tắc làm báo độc lập, không khuất phục trước áp lực kiểm duyệt: “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói, thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”. Cũng trên diễn đàn này, Cụ là một trong những học giả tiên phong dùng sử liệu Phủ biên tạp lục khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Bước chuyển biến lớn lao ở chặng cuối cuộc đời khẳng định tầm vóc văn hóa của Huỳnh Thúc Kháng: một trí thức Nho học uyên thâm sẵn sàng vượt qua định kiến cá nhân để hòa mình vào dòng chảy cách mạng của dân tộc. Nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 3/1946), rồi Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (tháng 5/1946), Cụ cống hiến trọn vẹn trí tuệ và uy tín của mình cho nền độc lập non trẻ.

Đặc biệt, trong thời gian được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước (từ 31/5 đến 21/10/1946) khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, Cụ đã thực hiện xuất sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, điều hành bộ máy nhà nước, kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Bản lĩnh vững vàng của người con xứ Quảng đã góp phần chèo lái con thuyền cách mạng qua giai đoạn hiểm nghèo.

Nhìn từ góc độ di sản học, nhân cách Huỳnh Thúc Kháng là sự hội tụ trọn vẹn tinh hoa phong thổ Tiên Phước, truyền thống gia phong nề nếp và hào khí canh tân của quê hương xứ Quảng. Nguồn cội văn hóa ấy đã đúc kết nên một bậc đại chí sĩ “học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao”, “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”. Tấm gương sáng ngời của Cụ mãi là di sản tinh thần vô giá, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau bài học sâu sắc về tinh thần dấn thân, giữ vững khí tiết và phụng sự Tổ quốc.