TRƯNG BÀY CHUYÊN ĐỀ ĐI QUA CUỘC CHIẾN: NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐẸP VỀ NGHỊ LỰC VÀ ƯỚC MƠ CỦA NGƯỜI LÍNH

 

Ông Huỳnh Phương Bá và câu chuyện tình yêu, những lá thư thời chiến(ảnh dưới)

VH- Khai mạc ngày 24.7 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội), Đi qua cuộc chiến là trưng bày chuyên đề do Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với một số bảo tàng, di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại ba miền Bắc, Trung, Nam tổ chức nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27.7.1947 – 27.7.2017). Những câu chuyện được kể tại triển lãm mang đến cho người xem nhiều xúc cảm, giữa muôn vàn khó khăn, gian khổ của cuộc chiến vẫn bừng sáng những câu chuyện đẹp về tình yêu, tình đồng đội, tình quân dân ấm áp.

 


 Ước mơ sau cuộc chiến

Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Vũ Mạnh Hà cho biết, trưng bày Đi qua cuộc chiến là lần đầu tiên Bảo tàng sử dụng phương pháp nhân học. Với hơn bốn tháng chuẩn bị, đội ngũ cán bộ của Bảo tàng đã có mặt tại nhiều tỉnh thành, gặp gỡ với nhiều nhân chứng để trò chuyện, ghi hình và biên tập thông tin. Khuôn khổ một trưng bày chuyên đề chỉ có thể giới thiệu được câu chuyện của gần 50 thương binh tại Hà Nội, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Bến Tre, Cần Thơ… Và bởi vậy, đây chỉ là một phần nhỏ trong số hàng ngàn câu chuyện của các thương binh trên khắp mọi miền Tổ quốc, được kể theo mạch hồi ức từ quá khứ đến hiện tại và những mong ước cho tương lai.

Câu chuyện Đi qua cuộc chiến được kể theo mạch ba nội dung chính: Ký ức nơi chiến trường, Khi cuộc chiến đã qua và Ước mơ. Khi đất nước có chiến tranh, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, bao lớp thanh niên Việt Nam đã hăng hái lên đường chiến đấu. Những người lính trẻ đã nguyện dâng hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước, họ băng rừng, lội suối, vượt qua mưa bom bão đạn; đối mặt với quân thù, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh. Khi cuộc chiến đi qua, dù may mắn được trở về nhưng với các thương binh thì chiến tranh dường như vẫn còn đó bởi nỗi đau thương tật, khó khăn và những trở ngại trong cuộc sống. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thương binh tàn mà không phế”, nhiều người trong số họ đã không đầu hàng số phận. Có người cả hai mắt đã không còn nhìn thấy nhưng vẫn trở thành một họa sĩ tài năng. Có người cụt cả hai tay, hai chân vẫn có nhiều đóng góp cho xã hội. Có người dù tuổi đã cao vẫn tiếp tục học hành với tâm huyết góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc. Có người luôn trăn trở, rong ruổi khắp các chiến trường xưa để tìm hài cốt đồng đội, tích cực hoạt động từ thiện nhằm giúp đỡ những mảnh đời bất hạnh. Nhiều người trong số họ đã trở thành những nhà lãnh đạo, cán bộ quản lý ở nhiều lĩnh vực, những doanh nhân thành đạt…

Đó là những câu chuyện sống động được “kể” tại trưng bày Đi qua cuộc chiến. Trên tất cả sẽ là cảm xúc dành cho người xem khi được chứng kiến hình ảnh những thương binh kiên cường vượt khó, nuôi dưỡng ước mơ bình dị cho riêng mình. Ước được một lần vào Lăng viếng Bác, ước có đôi mắt sáng, ước có một căn nhà nhỏ, một mái ấm gia đình hay giản đơn chỉ là một giấc ngủ sâu khi vết thương tái phát... Cùng với những ước mơ riêng là những ước mơ chung: ước mơ có điều kiện giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, ước mơ được trở lại chiến trường xưa thắp hương, tìm kiếm hài cốt đồng đội…

Những câu chuyện cảm động

Họa sĩ Lê Duy Ứng, người thương binh có nghị lực phi thường không còn là nhân vật lạ lẫm với công chúng. Ở triển lãm, câu chuyện của ông một lần nữa lại được khắc họa thật sinh động. Bị trúng đạn vào mặt và người trong chiến dịch mùa Xuân năm 1975, khi nghĩ mình sắp hi sinh, ông đã chấm máu từ đôi mắt, xuất thần ký họa chân dung Bác, cờ Đảng, cờ Tổ quốc và ghi đậm bên dưới dòng chữ “Ánh sáng niềm tin con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân”. Bức huyết họa ấy đã trở thành một biểu tượng của niềm tin chiến thắng và sức sống mãnh liệt của người chiến sĩ cách mạng Việt Nam, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Cho dù đôi mắt bị hỏng, người thương binh ấy vẫn tìm lại được ánh sáng của niềm tin. Ông nhờ bạn bè ở trường Mỹ thuật tìm giúp đất và miệt mài tập nặn trong bóng tối bằng trí tưởng tượng và sự nhạy cảm của người nghệ sĩ. Sau nhiều ngày tháng, ông hoàn thành tác phẩm đầu tay của mình, bức tượng về Bác Hồ cùng dòng thơ “Hỏng mắt con tạc tượng Người/ Niềm tin ánh sáng trọn đời trong con”. Sự miệt mài sáng tác đã đem lại cho ông một gia tài khá đồ sộ, với 600 tượng và tranh, tổ chức 44 cuộc triển lãm, trong đó có 9 giải thưởng trong nước và quốc tế.

Sự hiện diện của thương binh Huỳnh Phương Bá lại kể về câu chuyện tình yêu, những lá thư thời chiến. Quê ở huyện Điện Bàn (Quảng Nam), năm 1950, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông xếp bút nghiên lên đường theo cách mạng. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, sau đó sang chiến đấu ở nước bạn Lào. Năm 1961, trở lại miền Nam hoạt động trên khắp chiến trường Khu V. Trong quá trình chiến đấu, ông bị thương nhiều lần. Lần nặng nhất là vào năm 1969, khi đang chiến đấu ở căn cứ Sơn Hà (Quảng Ngãi) thì bị địch phát hiện, rải bom B52 mù trời, bom tạt vào trong hầm, quần áo, đồ đạc cháy và hỏng nát, bản thân ông bị gãy xương sườn, ảnh hưởng cột sống, thủng màng nhĩ…

Suốt 40 năm trong quãng đời binh nghiệp, qua nhiều vị trí, từ người lính bình thường đến người lãnh đạo chỉ huy và cả lúc về hưu (năm 1990) với quân hàm đại tá, ông luôn tự học. Ông tâm niệm cần phải học suốt đời để hiểu rõ về cội nguồn, góp phần giữ gìn văn hóa của dân tộc. Năm 2006, ông đã tự mở lớp học Hán Nôm miễn phí tại nhà, sau đó mở rộng thành Câu lạc bộ Hán Nôm, đến nay phát triển thành Trung tâm Hán Nôm thành phố Đà Nẵng do ông làm Giám đốc. Ông cùng cộng sự đã dịch gia phả miễn phí, dịch thành công nhiều tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng có lẽ, sâu đậm nhất trong cuộc đời và ký ức của người thương binh này là câu chuyện tình yêu thời chiến. Năm 1957, đơn vị ông về đóng quân ở huyện Nam Đàn (tỉnh Nghệ An). Tại đây, ông gặp cô nữ sinh Vương Thị Tiệng và là vợ của ông sau này. Sau 10 ngày cưới vợ, ông trở về đơn vị để qua nước bạn Lào. Năm 1961, ông trở lại chiến trường miền Nam, để lại người vợ son trẻ tuổi đôi mươi ở hậu phương. Hơn 13 năm xa cách đằng đẵng, vợ chồng ông chỉ liên lạc qua những lá thư viết vội. Thật kỳ diệu, không ai bảo ai, cả ông và bà đều lưu giữ những bức thư và coi đó là hiện thân của người đi xa. Mỗi khi buồn nhớ, ông lại lấy thư ra đọc để lấy động lực tiếp tục học tập và chiến đấu. Trên chiến trường ác liệt, nhận được thư, đọc xong ông gói vào bao nilon và cất vào thùng đại liên, chôn giấu dưới lòng đất, lúc đi công tác ông gửi lại anh em. Hòa bình lặp lại, vợ chồng ông giữ được 126 lá thư từ tháng 3.1962 đến tháng 1.1974, (trong đó có 21 lá thư của đồng đội). Chính sợi dây yêu thương vô hình mà vững chắc của vợ đã giúp ông vượt qua bao gian khó, hiểm nguy để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Còn nhiều câu chuyện xúc động như thế nữa mà người xem sẽ được gặp ở cuộc triển lãm đặc biệt này. Đó là câu chuyện của thương binh Nguyễn Thế Nghĩa- người tử tù và những kỷ vật bằng máu; Anh hùng La Văn Cầu, một huyền thoại sống của Lực lượng vũ trang nhân dân; nữ dân quân Trần Thị Bưởi – người vinh dự được Bác Hồ sửa tên; ông Nguyễn Trung Thu - vị tướng đánh giặc từ thuở lên 10…

Phương Anh

Bản quyền của Bảo tàng Đà Nẵng

Trưởng ban biên tập: Ông Huỳnh Đình Quốc Thiện, Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng

Trụ sở cơ quan: Bảo tàng Đà Nẵng

Địa chỉ: 24 Trần Phú, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Điện thoại: (84.236) 3 886 236 – 3849277. Fax: (84.236) 3887635

Email: btdn@danang.gov.vn. Website: www.baotangdanang.vn

Phát triển bởi Unitech